Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2025

PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ

 Hổm rày, Phúc mới đi xong 1 chiếc tour Du lịch học tập nông nghiệp về Tiền Giang và Đồng Tháp, sẵn về ghé Long An thăm vườn và xưởng sản xuất các sản phẩm thanh Long. 
Biết ơn những nhà cung cấp, người địa phương đã nhiệt tình đón tiếp đoàn. Sẵn đây, mời các bạn đọc thêm về sự thật thà chất phát của người miền Tây

Nếu bạn hỏi người Long An: “Năm nay lúa má sao anh?” thì Long An trả lời: “Hàng hà!”. Còn người Vĩnh Long sẽ trả lời: “Nhốc luôn!”. Dân Đồng Tháp sẽ nói: "Bể bồ."
Có những từ ngữ qua cách nói chuyện rất đặc trưng của vùng mà nghe xong sẽ biết dân xứ nào liền.
Cái chữ nhốc luôn của người Vĩnh Long dễ thương lắm! Chỉ hai chữ nhốc luôn đã làm khổ bao nhiêu người. Bạn thử quen và yêu một người Vĩnh Long đi! Hỏi em thương anh hem thì trả lời rằng "Thương nhốc luôn! Thương không thể tả hết!"
Vĩnh Long có nhiều cổ tích, xứ văn minh nhứt nhì Miền Tây xưa, có Văn Thánh Miếu, Cây Da Cửa Hữu, xóm Thiềng Đức, Cầu Lầu, cầu Lộ, cầu Công Xi Heo...
“Nước chảy re re con cá he xòe đuôi phụng
Cả tỉnh Vãng Luông này anh đành bụng một mình em.”
Ta nhớ một vùng đất nào đó trước nhứt vì trót thương một người ở đó. Lục Tỉnh mình đâu đâu cũng thương cũng nhớ, đất lề quê thói vô vùng đáng yêu nên nhiều người cứ quyến luyến quài quỷ là vậy đó.
Bao mùa lụt về, nước Cổ Chiên đục ngầu, đứng dựa vào bờ công viên, dòng nước cuốn đục ngầu trôi ào ào ra biển, Vĩnh Long 11 h đêm vắng ngắt tựa hồ nghe cả hơi thở.
"Hò ơi...ơi!
Tay nâng chén muối dĩa gừng
Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau
Tay bưng dĩa muối sàng rau
Căn duyên ông trời định,bỏ nhau sao đành.”
Ờ! thương người Vĩnh Long lắm, nhớ lắm, da diết lắm!
Dân Nam Kỳ cũng lãng man lắm, gọi nước lên xuống ngày 2 lần bằng mấy chục từ diễn tả, như: nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương, nước đổ, nước ngập, nước nổi, nước quay, nước lụt, nước giựt, nước rút, nước chảy, nước trôi, nước nhảy, nước bò…
"Khúc sông bên lở bên bồi
Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm."
Nước ròng còn chia ra: nước ròng cạn, nước ròng sát, nước ròng rặc, nước ròng kiệt, hay còn gọi tắt là nước cạn, nước sát, nước rặc, nước kiệt…
Thời điểm nước đứng gọi là nước nhửn.
"Nước lớn rồi lại nước ròng
Đố ai bắt được con còng trong hang."
Dân Bắc Kỳ, Trung Kỳ gọi thuyền hay đò thì ở Nam Kỳ gọi ghe và chia ra hàng chục loại: ghe chài, ghe đục,ghe be, ghe bầu, ghe cui, ghe cửa, ghe giàn, ghe lồng, ghe lườn, ghe ngo, ghe tam bản…
"Ghe bầu trở lái về đông
Làm thân con gái theo chồng nuôi con."
Dân Bến Tre (trừ Châu Thành, Tp Bến Tre, Chợ Lách và Bình Đại) đọc phụ âm “tr” thành “t”. Thí dụ: cây tre, cây trúc thành cây te, cây túc, Bến Tre thành Bến Te, Ba Tri thành Ba Ti, Giồng Trôm thành Dồng Tôm.
"Chợ Ba Ti thiếu gì cá biển
Anh thương nàng anh nguyện về đây."
Chiều Mỹ Tho chạy tà tà khúc cầu Rạch Miễu, nghe ông kia phát loa rao "Chôm chôm Bến Te ngọt ngay đây!". Người lữ khách chạy qua nói với tôi "Đứng là chôm chôm Bến Tre đó anh!"
Người Bến Tre dễ thương, chơn chất, lòng dạ cũng rất hiền có sao nói vậy, đất cù lao đã tạo ra những người làm bạn ngẫn ngơ.
Nhớ hồi xưa đi bắc Rạch Miễu rất dễ thương, cứ chạy qua là bạn có 15 phút du ngoạn sông Tiền, nó chạy lòng vòng qua cồn Phụng trong hoàng hôn tuyệt đẹp, gió mát rượi, lúc đó lũ sông Tiền rất lớn, nước cuốn ào ào đỏ quạnh cái màu gạch tôm.
"Bậu sang phà Rạch Miễu
Ngoay ngoảy về Bến Tre
Qua quyết lòng ở rể
Năn nỉ hoài không nghe
Hổng nghe mà ngoái lại
Hỏi ai cầm đậu lòng
Ngớ ngẩn qua chợ Giữa
Cầu Chẹt Sậy, Mỹ Lồng
Bậu về Lương Hòa hả?
Hay Lương Quới, Giồng Trôm ?".
Bến Tre ơi hỡi Bến Tre!
Bến Tre đã tồn tại trong lòng Nam Kỳ Lục Tỉnh mình với cách rất riêng, đây là xứ cù lao bốn bề sông nước và một mặt giáp biển. Đây là xứ trái cây, xứ dừa, xứ của sông rạch, xứ của bánh tráng, bánh phồng, bánh dừa.
Bến Tre là quê của Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu (1752 - 1827) một trong Ngũ hổ tướng Gia Định. Ông làm quan hơn bốn mươi năm qua hai triều Gia Long, Minh Mạng.
Bến Tre là quê nhà của tiến sĩ Phan Thanh Giản, ông ra đời năm 1796 tại Gãnh Mù U cằn cỗi nay là làng Bảo Thạnh Ba Tri.
"Cây mù u theo tháng ngày héo rũ
Bông úa tàn rụng trắng nụ ngoài sân."
Bến Tre là nơi sanh quán của học giả Petrus Trương Vĩnh Ký, đó là làng Cái Mơn, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay là huyện Chợ Lách).
Người Bến Tre không đẹp thì thôi, nhưng đã đẹp là nổi tiếng Nam Kỳ Lục Tỉnh.
"Bướm đeo dưới dạ cây bần
Muốn phân nhân ngãi, lại gần sẽ phân."
Vùng Gò Công cũ gồm Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tp Gò Công và Cần Đước, Cần Giuộc tỉnh Long An ở trong quê sâu có cách phát âm “ng” thành “qu”. Thí dụ: ông ngoại thành ông quại.
Thành ra nói kêu " ông quại" cho toàn Nam Kỳ là không trúng.
Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh và Củ Chi có cách phát âm “th” thành “kh”. Ví dụ: cái thùng thành cái khùng. Tuấn Thuỷ thành Tuấn Khỉ.
Người Nam Kỳ viết không sai chánh tả nhưng trong văn nói có nhiều đặc trưng của vùng, gọi là phát âm sai nếu theo lý thuyết chữ quốc ngữ.
Phát âm phụ âm cuối không phân biệt “n” và “ng”, “c” và “t”,””y”và “I” Thí dụ: cục than thành cục thang, liên thành liêng, lan thành lang, mái và máy, lụt và lục, mát và mác, thước và thướt ….
Phát âm “ê” thành “i”. Chẳng hạn cơm nếp, cái đệm thành cơm níp, cái địm. Phát âm “ươ” thành “ơ”; trái mướp thành trái mớp, ăn cướp thành ăn cớp, đám cưới thành đám cứi, tức cười thành tức cừi.
Phụ âm “r” “g” ,như rau răm thành gau găm, cá rô thành cá gô.
Phụ âm “r” thành “d”. Ví dụ: rau răm thành dao dăm, cá rô thành cá dô, Rạch Giá thành Dạch Dá.
Nghe giọng cất lên, biết trúng phốc là giọng vùng nào. Cái giọng Cái Bè rang rảng cao vút, cái giọng Hậu Giang ngô thiệt ngộ!
Gặp người miệt Hậu Giang, chớ anh có biết em ở Vàm Xáng nào không? Anh gáng đoán là chắc tới sớm mơi chưa xong quá!
“Kinh Xáng mới đào, tàu đương chạy
Anh thương em thì thương đại
Đừng ngại, bớ điệu chung tình.”
Dân Nam Kỳ kêu cái xà lan biết cạp đất thổi đất là cái xáng múc hay xáng thổi, xáng cạp, những con kinh được đào có tên kinh xáng múc, kinh xáng thổi.
Có hàng ngàn địa danh ở lục tỉnh bắt đầu từ chữ Xáng như: Vàm Xáng, Xáng Cụt, Xáng Lớn, Xáng Bốn Tổng, Xáng Xà No, Xáng Lái Hiếu, Xáng Nàng Mau, Xáng Bà Kẹo, Xáng Tắc Vân, Xáng Chắc Băng, Cầu Xáng, Chợ Cầu Xáng, Xáng Mới, Xáng Nổ, Xáng Chìm, Xáng Chàm…
“Củ năn ngăn trong lòng son đỏ
Mấy lời to nhỏ: bạn bỏ sao đành
Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành
Tàu Tây kia liệt máy, anh mới đành bỏ em.”
Đó là Văn minh kinh xáng. Pháp đào kinh, đắp lộ hai bên con kinh xáng, mở chợ, nhà máy xay lúa, nhà cửa dân lục tỉnh cứ theo hai bên mé kinh mà mọc ra, từ đó trường học bịnh viện theo ra.
Về miệt ngã bảy Phụng Hiệp mỗi buổi sớm mơi nhìn ghe thuyền chạy ào ào trên sông mới thấy vị trí quan trọng của những con kinh xáng này. Nhớ làm sao kinh xáng Xà No, chợ Vàm Xáng, chợ Một Ngàn, chợ Bảy Ngàn, chợ Cái Nhum, chợ Hỏa Lựu, Cầu Xáng, Xáng Mới, Xáng Chìm, Xáng Nổ, Xáng Bộ, xáng Lái Hiếu, xáng Nàng Mau?
Có khi giữa Sài Gòn ta gặp một người Năm Căn dễ mến! Nhạc sĩ Thanh Sơn trong Áo mới Cà Mau nhắc Năm Căn:
"Chừng nào về Năm Căn
Nhớ nhau qua lại cũng gần
Một lần về U Minh
Nghe muỗi kêu nhớ rừng Cà Mau."
Thực sự Năm Căn không gần, xa miết mút chỉ cà tha, xa miệt mài, Cà Mau khó tới thì Năm Căn khó gần. Hồi đó muốn đi về Năm Căn không có dễ, giờ thì đỡ hơn rồi.
"Anh ơi, tháng tám mưa dầm
Nhớ về Năm Căn săn ba khía hội…"
Năm Căn gần biển, rừng đước xưa minh mông, là xứ hầm than đước nổi tiếng.
Năm Căn có kinh rạch chằng chịt, có rừng giáp biển, có sông Cửa Lớn, sông Tam Giang hay sông Năm Căn chảy qua. Đây là xứ thủy sản. Cá dứa, cá nâu, cá kèo, tôm, cua, ghẹ, sò huyết, hàu, nghêu, vọp, ốc len nhiều vô số kể. Năm Căn nổi tiếng tôm khô và ba khía muối.
Năm Căn là gì? Không phải từ tiếng Khmer. Trong truyện ngắn Thơ núi Tà Lơn nhà văn Sơn Nam giải thích:
"Tại sao kêu là xóm Năm Căn? Tôi nghe nói hồi xưa, nơi đó có năm miệng đáy. Sông sâu, nhiều sấu người ta không đóng cột xuống sông. Cứ neo sáu chiếc ghe cách khoảng đồng đều nhau. Giữa hai chiếc ghe, họ giăng miệng đáy. Căn có nghĩa là gian, là miệng..."
Năm Căn chính là năm cái miệng đáy trên sông.
Mỹ Tho là xứ còn giữ nhiều cái Miền Nam xưa, nhìn rất ngộ. Ở Mỹ Tho cafe là chơi một ly chà bá, cái ly người Miền Nam kêu là ly cối đá. Đang mệt mần một ly cối đá nó đã đời!
"Hò ơ....hò!
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu."
Mỹ Tho có tô hủ tíu chay, có tô hủ tíu khô Mỹ Tho ngon quỷ khốc thần sầu! Người Mỹ Tho kêu con nui là bột sò, ăn bún bò bỏ sa tế cay xè nước mắt.
Bước qua những con đường ngoắt ngoéo từ Mỹ Phong qua Chợ Cũ về chợ Mỹ, qua Giếng Nước về Vòng Nhỏ, Trưng Trắc, Lạc Hồng.
Mỹ Tho ngộ quá! có cái Giếg Nước nhưng đâu phải cái giếng. Giếng nước Mỹ Tho là đoạn hào thành Mỹ Tho xưa nằm ở cửa hữu thuộc làng Bình Tạo. Pháp giữ nguyên hào thành biến thành một con kinh đặt là kinh Nicolais.
Trên tấm bản đồ thời VNCH in năm 1960 ghi rõ là Hồ Nước Ngọt. Chẳng biết địa danh Giếng Nước có chánh thức từ khi nào?
Với nhiều người Lục Tỉnh, Mỹ Tho ngày nay không còn cầu tàu Lục Tỉnh, nhưng sẽ nhớ Cầu Quây, nhớ chợ Mỹ, bến Trung Trắc ngày Tết, chợ bông Lạc Hồng í ới, đường hoa Hùng Vương, Cầu Đôi, nhớ những quán ốc, quán cơm Chí Thành, Làng Việt.
Những ai từng đợi người thương trước trường Nguyễn Đình Chiếu còn thương nhới hơn nữa! Với tôi, tôi sợ Nguyễn Đình Chiểu nên quen người ở Trần Hưng Đạo, nhưng rồi cũng phải nhớ khi chạy ngang chợ Mỹ Tho, chợ Hàng Bông. Mình từng ngồi đợi ở đó mà!
Với tôi, Mỹ Tho là chỗ thiêng liêng bậc nhứt trong lòng dù có những lúc vui và buồn vô hạn, những bước chưn, hơi thở, từng ánh mắt nụ cười và cả nước mắt. Cái cũ và mới của cuộc đời vây lấy tôi, làm cho tôi sống giữa cũ và mới, nhiều khi cũng không biết nói cái gì.
Mỹ Tho là nơi trong tiền kiếp và hiện tại luôn quyện lại một phần tình cảm của tôi.
"Từ độ đôi ngã bước xa
Không còn không còn thấy nữa
Trả nũng nịu xưa có em ru giấc ngà."
Đã rất lâu tôi không còn ghé những nơi cũ vì tôi sợ, tôi tránh, để mình an lòng bước vào một cuộc sống tạm mới. Nhưng rồi như lại thao thức trở giấc.
Mỹ Tho ơi!
Nhớ có lúc mệt ghê nơi, mệt lắm, nhưng tiếng chuông chánh toà Mỹ Tho lúc chiều như an ủi, che chở, rỉ rả, tỉ tê, xoa dịu tinh thần, vỗ về trần ai đau khổ, cầu xin thiên thần dừng bước với mình!
Vậy là tiếng chuông đã trở về tưng bừng sức sống, làm cảnh bớt thê lương.
"Nửa đêm giáo đường chuông vọng xa xôi, phố vui như thuở ban đầu, gặp nhau giữa đêm kinh cầu."
Lúc nào Chúa cũng thương mình mà!
Nhiều khi nghe một bài hát, tự dưng nhớ một nụ cười, một nụ cười Lục Tỉnh, cứ ngỡ mình bước qua sông tìm về miền nhớ, miền thương, nựng một cái cho đã nhớ.
Mà thương nhiều lắm, thương nụ cười Trà Vinh, thương nụ cười Sa Đéc, thương người Cần Thơ, thương người Vàm Xáng, Nha Mân ....
Miền Tây đẹp, Miền Nam ta đó! hết thảy đẹp vô cùng không ở nơi nào có đặng. Con người hịch hạp, vui hoà.
Không mất, nó được vun bồi còn nhiều hơn. Vì chúng ta quyết giữ nó.
Người Nam Kỳ sẽ thương người Nam Kỳ nhiều hơn, cái kiếp con người cùng ăn chung một món ăn, cùng ngủ trên một chiếc chiếu, chèo cùng một chiếc xuồng, uống chung một dòng nước, cùng kiếp lưu dân, dân lân, dân ấp…
"Trôi nổi phận đời giữa khói mây
Nhơn sanh ba vạn sáu ngàn ngày."
Ngồi nhớ tự tập cho mình nhớ hết những nụ cười, những khuôn mặt đó để rèn cái trí cho không quên, cũng là tập cho cái tình thương xứ sở đậm đà hơn.
"Phải chi mình đừng nghe tiếng chim bìm bịp
Chắc tuổi ngây thơ không theo con nước lớn ròng."
Nguồn bài viết Chúng ta yêu thương nhau vì là người Nam Kỳ!: Nguyễn Gia Việt

XU HƯỚNG TRẢI NGHIỆM DU LỊCH 2026

  Dưới góc nhìn của một Hướng dẫn viên và Người thiết kế tour dài ngày, xu hướng trải nghiệm của khách du lịch năm 2026 tiếp tục dịch chuyển...