Thứ Hai, 25 tháng 3, 2024

DU LỊCH CỘNG ĐỒNG VÀ VĂN HÓA GIẢ TRANG

 



1. Văn hóa giả trang, đó là ấn tượng của tôi khi có dịp dẫn khách lưu trú, tham quan hoặc ghé thăm, khảo sát một số địa danh du lịch, ghé qua các “làng du lịch”, “bản du lịch”, đến thăm và lưu trú ở các homestay, farmstay... Gần đây nhất là chuyến đi về xã Đạ Long, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng; tôi đưa đoàn du khách lưu trú tại một nhà nghỉ được cho là tốt nhất và khang trang nhất cụm 3 xã vùng sâu - vùng xa của Lâm Đồng này. Từ bên ngoài đi vào, có thể thấy lối kiến trúc của nhà nghỉ là kiểu nhà sàn cột sắt, một quần thể nhà sàn kiểu tân thời dựng san sát nhau, với từng khu vực được chắp ghép vào và các loại hoa mà ta có thể tìm thấy ở bất cứ tiệm cây cảnh nào trong thành phố, được trồng trên các khuôn viên và lối đi. Quần thể nhà sàn ấy có đủ công năng: khu café, khu lưu trú, khu đón tiếp. Tóm lại, là một khu nghỉ dưỡng hiện đại được mặc chiếc áo mỏng mang tên du lịch cộng đồng. Nhiều năm gần đây, homestay nổi lên như một hình thức lưu trú, thậm chí là một hình thức du lịch gắn với các chữ như “cộng đồng”, “nông thôn”, “bản địa”. Tuy nhiên, từ trải nghiệm của tôi ở các homestay trải từ Tây Bắc đến Tây Nguyên, Nam Trung Bộ..., thì thấy rằng, đó mới chủ yếu chỉ là các nhà nghỉ/ khách sạn có chút cách điệu, chứ không phải homestay đúng nghĩa. Nó chỉ có cái vỏ hơi giông giống “cộng đồng”, còn ruột thì đích thị là thành phố. Homestay, nôm na là [du lịch] tại gia, tức là khách từ phương xa tới sẽ ăn, ngủ, sinh hoạt và thậm chí tham gia lao động cùng nhà chủ, như một thành viên thực thụ trong gia đình. Cái “home” ấy chính là căn nhà mà cả gia đình của người dân bản địa đang sinh sống thật sự; khách vào là “ở trọ”, “tá túc” và sống cùng gia đình người ta trong một khoảng thời gian nhất định. Chứ không phải là xây lên một cái nhà nghỉ hay khách sạn, cung cấp các loại dịch vụ và phục vụ kiểu nhà hàng. Cái đó chỉ là homestay trá hình. Và về thực chất, đây chỉ là bê thành phố về đặt vào lòng nông thôn/ miền núi, mượn tên của một ngôi làng, một bản, sóc, phum… và mô phỏng món ăn, mô phỏng áo quần, mô phỏng lễ hội, v.v., để làm ra một thứ văn hóa giả trang. Nhìn vào cách bố trí không gian, hoạt động lưu trú và dịch vụ du lịch đi kèm, đồng thời tìm hiểu về “làng du lịch” này thông qua truyền thông của chính các homestay và báo chí địa phương, thì tôi có nhận định ban đầu rằng, đây mới chỉ dừng lại ở cách làm “du lịch mượn danh”, “du lịch bề ngoài”, “du lịch khoác áo”... Đi sâu hơn vào từng buôn làng thì thấy một số gia đình cũng có bố trí cho khách ở cùng, theo nghĩa là ăn ngủ ở trong một căn nhà sàn được làm mới, nằm bên cạnh nhà cũ. Tuy không cùng ăn, cùng ở, cùng lao động, nhưng ít ra khách cũng có điều kiện quan sát sinh hoạt và cuộc sống của gia đình. Tuy nhiên, đó là những nhà chưa có điều kiện đầu tư làm lớn. Còn những nhà có đầu tư, thì người ta lắp đèn nháy, làm quán bar hình bát giác, làm nhà sàn theo kiểu nhà du lịch, cơi nới thêm mái tôn. Một số hộ dân còn trang bị loa kéo hay thậm chí là dàn loa karaoke công suất lớn để thỏa cái sở thích của một số đoàn khách. Điều này cho thấy, khi mới khởi đầu thì còn tạm được. Về sau, càng đầu tư thì càng lạc hướng, và càng hỏng. Tôi cùng cậu em người Kơ Ho đi lang thang và chụp hình những cảnh đẹp xuyên qua những cung đường đất đỏ và đường bê tông mới mở bên những chênh vênh nghĩ ngợi, thì đi tiếp, mong tìm thấy một làng Kơ Ho còn nguyên sơ đâu đó sâu trong những ngọn núi trùng điệp kia, hay chỉ cần vài nóc nhà dài đúng kiểu Kơ Ho thuần chất.

2. Trong bữa cơm trưa cùng một gia đình người Kơ Ho được dọn trên ngôi nhà sàn kiểu mới, lợp ngói và bắn mái tôn xung quanh, nhìn các món ăn thấy không khác quê mình, cũng cơm ống tre, thịt gà nướng, cá suối chiên giòn, canh măng ...; tôi hỏi, ở đây món gì là đặc trưng của người người Kơ Ho. Mọi người lúng túng không biết giới thiệu thế nào. Lại nhìn áo quần mọi người đang mặc, cũng không khác gì đồ trên người mình. Thức uống là rượu gạo, rượu chuối hột như dưới xuôi, bia các loại nữa, tôi hỏi về loại rượu nào là rượu của Kơ Ho, những phong tục, lễ hội, v.v., bây giờ còn không... Vẫn chỉ là những lúng túng. Tôi nói rằng, tôi lặn lội vào sâu trong đây là để mong nhìn thấy quần áo Kơ Ho, đồ ăn Kơ Ho, nếp sống Kơ Ho, phong tục Kơ Ho; từng mái nhà, giọng nói, đường đi, cây trái... của người Kơ Ho. Còn tất cả những thứ này, thành phố đều có. Tôi khao khát được sống với một không gian văn hóa khác, bởi vì thèm thuồng và quý trọng. Mọi người từ chỗ ngạc nhiên, rồi bắt đầu thả lỏng và cởi mở dần. Nghe tôi nói, anh chủ nhà đứng dậy đi vào trong và xách ra một bộ cồng chiêng, ôm ra một vò rượu cần. Anh thanh minh rằng, nay đã ít khi dùng, và không nghĩ là có người lại thích những thứ này. Tôi nói, các anh trên này sống thế nào thì khi có khách cũng hãy cứ sống y như vậy, đừng “đoán ý” khách mà cư xử. Các bà, các chị và các em gái bắt đầu mang điện thoại ra khoe về một lễ hội trước đó đã được quay phim lại, họ chìa cho tôi xem, rồi bắt đầu nói về những mảnh rượng lúa nương đẹp như ở Tây Bắc, những váy áo, những món ăn... với niềm vui và lòng tự hào đôi chút.
Tôi nhớ hoài một câu chuyện thưc tế: Tôi có một công ty khách hàng lâu năm, năm nào anh cũng yêu cầu tôi tìm cho anh một điểm đến cho công ty anh ấy đến du lịch kết hợp teambuilding và cultural trekking. Yêu cầu của anh là đội ngũ HDV, hoạt náo viên là người bản địa trong trang phục bản địa. Tôi và cộng sự đã phải tốn khá nhiều thời gian và chi phí để trang bị cho anh em người Kơ Ho bộ đồng phục thổ cẩm, cũng như huấn luyện anh em cách giao tiếp để tôn lên giá trị truyền thống của người Kơ Ho. Lý do là: anh em phần đa là chẳng có cho riêng mình một bộ trang phục dân tộc, cũng chẳng trang bị một bài giới thiệu ngắn gọn về bản thân và dân tộc mình. Tôi hiểu rằng, một trong những lý do dẫn đến cách ứng xử ấy là xuất phát từ sự tự ti, hoặc từ áp lực xã hội đòi hỏi phải thích nghi cao độ để sinh tồn, và nó dẫn đến tâm lý “che đậy xuất thân”. Trong tình hình chung ấy, có một nỗ lực né tránh, gột bỏ, “Kinh hóa”, thị dân hóa đã và đang âm thầm chi phối mạnh mẽ lên văn hóa của những tộc người thiểu số. Có một sự thật đau lòng, là không ít nơi đã gần như mất trắng văn hóa bản địa; tộc người Kơ Ho và Chu Ru ở Lâm Đồng là một minh chứng. Thiết nghĩ, hiện tượng này cũng không phải điều gì quá bất thường, vì nó xuất phát từ một trong nhu cầu rất con người, và thậm chí chính đáng nữa: sinh tồn. Tuy nhiên, tôi tin rằng, mọi tộc người, dù đa số hay thiểu số, một khi đã hiểu được sự bình đẳng về văn hóa, có ý thức tự tôn bởi những nét độc đáo và vẻ đẹp đặc thù, tự hào về giá trị văn hóa của dân tộc và cộng đồng mình, thì khi đó, chắc chắn sẽ có những thay đổi trong ứng xử. Sự tự tin sẽ trở lại, nỗ lực bảo tồn văn hóa sẽ được khởi động một cách tự giác từ bên trong. Và lúc này, văn hóa sẽ trở thành một thực thể sống, thấm đẫm vào từng nếp nghĩ, từng bữa ăn, từng bước đi, chứ không còn là thứ hàng trang sức được bày trong tủ kính để mỗi năm được mang ra tổ chức vài lần cho quan khách xem, như cái cách nó đang diễn ra. Những thay đổi mau chóng về thái độ ứng xử chỉ trong một bữa cơm xuất phát từ chia sẻ của tôi với gia đình một người Kơ Ho mà tôi đã kể ở trên, chứng tỏ điều đó. Rất nhanh, họ đã lấy lại sự tự tin. Tôi tin rằng, nếu lúc đó trong nhà đang có đủ trang phục của dân tộc mình, họ sẽ vào thay và ra ngồi để tiếp tục trò chuyện với nhau bên vò rượu cần. Tiếc thay, như chính mọi người đã thú nhận, rằng cả gia đình chỉ còn mỗi người mẹ là mặc váy, mà cũng chỉ là chân váy, chứ áo thì cũng đã là áo của người Kinh rồi!

3. Trở lại với homestay. Nếu không làm sống lại và đi sâu vào văn hóa thường nhật của cộng đồng, mà vẫn làm du lịch theo hình thức giả trang như đang thấy khắp nơi, thì không những không bảo tồn được văn hóa bản địa; ngược lại, còn mang những thứ lai căng cắm vào cộng đồng ấy, phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, hủy hoại nốt chút ít văn hóa bản địa còn rơi rớt lại. Cách làm đúng là duy trì sinh hoạt, ăn uống, lao động, phong tục, tín ngưỡng... vốn là cổ truyền của tất cả các hộ gia đình trong cộng đồng ấy; sửa sang lại nhà cửa cho sạch đẹp, có chỗ ngủ cho du khách, đảm bảo các điều kiện về vệ sinh, an toàn, v.v., và cấp giấy chứng nhận cho những hộ nào đã đáp ứng các tiêu chuẩn làm du lịch cộng đồng – đã được quy chuẩn thành văn bản mang tính pháp lý. Người dân phải có công ăn việc làm của mình, việc nuôi trồng các cây và con đặc sản đặc thù của địa phương phải được chú trọng, để du khách đến là được hòa mình vào với đời sống bản địa một cách tự nhiên, trong sự trù phú, thân thiện và giàu bản sắc. Cảnh quan thiên nhiên phải được giữ gìn, tránh những can thiệp cơ giới ở mức cao nhất có thể. Cây rừng, cây bóng mát phải được phủ xanh bằng các loài bản địa như thông ba lá, giẻ, mai anh đào… Tuyệt đối không ham thanh chuộng lạ, du nhập các loài cây di thực, kiểu như cau vua, bàng Đài Loan, tùng bách tán… khiến cảnh quan văn hóa bị phá vỡ. Cây rau màu và rau “rừng” cũng cần sưu tầm, tuyển chọn từ truyền thống ăn uống của địa phương. Nghề thủ công truyền thống phải được lưu giữ, duy trì và phát triển. Đó phải là cuộc sống thật, nếp sống thật, căn nhà thật, công việc thật, chứ không thể là thứ trang sức lòe loẹt và giả dối bề ngoài. Du khách từ phương xa [như thành phố hay đồng bằng] đến với một thôn buôn là để được tắm đẫm trong văn hóa của địa phương, được sống trải với đời sống của dân địa phương, được tham gia trỉa bắp, hái rau rừng, đào măng, hái trái, làm rượu, bắt cá...; được ngồi vào mâm cơm cùng gia đình người chủ, được ngủ trong một căn phòng của ngôi nhà ấy, rồi sáng mai thức dậy cùng chủ nhà, ăn sáng và vác cuốc lên nương đồi... Đó mới là homestay thật sự, là du lịch cộng đồng thật sự, du lịch trải nghiệm thật sự. Nếu chúng ta còn làm du lịch theo kiểu giả trang như bây giờ, thì thứ nhất, không bảo tồn được văn hóa, thứ hai không thu hút được khách du lịch, và mãi mãi sẽ không có một ngành du lịch bền vững và có chiều sâu. Tất cả các công trình nghỉ dưỡng hiện đại kia thực ra đã nhan nhản ở thành phố và các đô thị lớn, đâu ai muốn đi hàng trăm cây số đến những vùng xa xôi trên núi cao hay làng sâu để lại chui vào một “thành phố mô hình” nữa! Đầu tư một cách bài bản vào cơ sở hạ tầng, từ đường đi, vệ sinh, môi trường, mạng lưới internet và các điều kiện an sinh, đồng thời bảo vệ thiên nhiên để giữ được những vẻ đẹp hoang sơ, đó là phần cứng; còn phần mềm phải là văn hóa bản địa. Chúng ta không thể cài một cái phần mềm là văn hóa đô thị [nhà hàng, khách sạn, bể bơi, massage...] vào trong một phần cứng chắp vá dở tây dở ta, dở thành phố dở nông thôn như cái cách đang làm để mà mong rằng du lịch sẽ phát triển và bền vững. Làm du lịch cộng đồng, gắn với các chữ homestay, farmstay..., trước hết và quan trọng nhất là phải có ý thức tôn trọng và yêu văn hóa bản địa, chứ không phải là mượn cái văn hóa ấy để kinh doanh. Và chính người dân địa phương phải là chủ thể của loại hình du lịch này, chứ không phải là người làm công ăn lương cho các ông bà chủ từ thành phố lên đang tìm cách kiếm tiền. Muốn thế, đầu tiên phải phục hưng lòng tự tin và sự tự tôn của chính những người bản địa về văn hóa của họ. Công việc hệ trọng này nằm trên vai chính quyền, báo chí, và về lâu dài là thuộc trách nhiệm của ngành giáo dục.

Từ khóa: du lịch cộng đồng, nguồn nhân lực du lịch bản địa, du lịch Lâm Đồng.
https://www.facebook.com/chuyentourtrekking/
https://baolamdong.vn/dulich/202007/de-tiem-nang-du-lich-dam-rong-khong-bi-ngu-quen-3012852/
https://www.vietnamplus.vn/danh-thuc-tiem-nang-du-lich-cua-mien-dat-kho-dam-rong-o-lam-dong-post858167.vnp

2 nhận xét:

XU HƯỚNG TRẢI NGHIỆM DU LỊCH 2026

  Dưới góc nhìn của một Hướng dẫn viên và Người thiết kế tour dài ngày, xu hướng trải nghiệm của khách du lịch năm 2026 tiếp tục dịch chuyển...