LƯỢC SỬ BIDOUP – TÀ GIANG
Phần 2 (phần cuối): Truyền giáo tin lành ở xứ Thượng
Đêm, chúng tôi cắm trại trên đồi cỏ đầy gió và sương ẩm. Nơi mà 100 năm trước, có lẽ cũng chừng giờ ấy, bon làng đã lên lửa nấu cơm!
---
Để tôi đưa bạn về lịch sử thời đã xa,
Ngày ấy, buôn làng sống trên đồi cỏ gọi là làng Đạ Kar. Đạ có nghĩa là suối – Kar có nghĩa là cá, ngôi làng nằm im lặng dưới chân Yaric sáng mây phủ, chiều sương giăng.
Từ Đà Lạt, đoàn truyền giáo Tin Lành xuyên rừng suốt gần ba tuần lễ vượt nhiều sông suối, hàng chục thác nước, vượt qua đỉnh cao nhất của cao nguyên Lâm Viên để giới thiệu Chúa cho những sắc tộc đang sống trong rừng sâu tại Liêng Bôn, Đạ Blah, Pang Pung, Pang Tiêng, và Tiah Soh. Tham gia hành trình có mục sư Phạm Văn Năm (nữ).
Năm 1957, mục sư Phạm Văn thực hiện việc truyền giáo tại làng Đạ Kar. Nhà thờ được xây dựng, những bon làng ở các triền núi Đạ Mây cũng qua dự lễ. Con đường trekking ngày nay in dấu người đồng bào Cil thuở xưa.
Sau giải phóng, khoảng năm 1979 cuộc di dân mang tính thay đổi lớn. Có nhóm về Đơn Dương, có nhóm về Lạc Dương và cũng có người vượt núi qua Khánh Vĩnh, sống với người T’ring. Bỏ lại những đồi cỏ và nằm chơ vơ theo gió trời!
Đã từng có những làng cổ xưa nằm tận cùng những cánh rừng heo hút, họ dựng nhà và sống cheo leo trên những triền núi cao chót vót – nơi của thú hoang và tiếng thông gọi gió về reo vui. Trải qua những thăng trầm của lịch sử và thời gian; những nơi ấy ngày nay là những con đường trekking nổi tiếng.
---
Đã bước qua ngày thứ tư trong những cánh rừng sâu của Bidoup, đồ ăn cũng vơi dần. Chúng tôi quyết định rút về. Con đường vốn đã ẩm ướt, thêm mưa càng thêm trơn trượt. Ra tới rẫy, Viên lấy xe cày chở chúng tôi ra làng, ăn bữa cơm tại nhà Viên. Chúng tôi hẹn nhau khi có thời gian sẽ lên chơi, chỉ chơi thôi chứ không làm. Tôi về tìm hiểu về lịch sử vùng đất ấy!
Mất thêm 2 năm nữa, dù khi viết bài này chỉ tốn chừng 30 phút. Mong rằng qua hai bài viết về văn hóa người Cil và lược sử vùng đất này. Các bạn trẻ đi trekking sẽ có thêm kiến thức hơn, hiểu hơn về xứ Kil Plagnol này, để nhớ về những đồi cỏ xanh tốt và hình ảnh những bon làng xa xăm theo bóng lịch sử.
LƯỢC SỬ BIDOUP – TÀ GIANG
Tôi và Cường đi khảo sát một dự án của Viện Sinh Thái Học Miền Nam. Chuyến ấy, chỉ có hai anh em và thêm hai bản địa người Cil là Jamy và Viên; đã quen từ lâu dẫn đường và khuân vác. Cường giao nhiệm vụ cho tôi chụp ảnh những loài cây trên cao, đưa tôi khẩu tele 400 dài ngoẵng nhìn như tên lửa vác vai Javelin.
Chúng tôi di chuyển từ Klon Klan, leo một ngọn núi cao rồi đi dọc triền hai vườn quốc gia. Chổ này thuộc rừng núi cao nên lạnh và nhiều pơ mu. Bốn ngày trong rừng đi tìm những loài kỳ hoa dị thảo!
Đêm, chúng tôi mò lên những điểm cao. Nơi có những gốc cây cổ thụ chết bật gốc từ lâu. Có những cây này sẽ tiện cho việc nhóm lửa. Đồ ăn cũng đơn giản, chỉ có cơm, rau rừng và ít đồ khô mang theo. Tiếng lửa nổ lốp đốp, mùi dầu từ đống lửa quyện rất đậm, đậm như đêm đen đặc ở xứ Lạc Dương này!
Viên nói:
- Anh Kar, chổ Bidoup – Tà Giang xưa đời ông bà em từng sống ở đó!
Tôi khẽ rít hơi thuốc, phả vào trong gió lạnh. Tuyến trekking Bidoup – Tà Giang, tôi đã đi và dẫn tour qua đó, đến gốc cây mà tôi viết chữ lên vẫn còn! Viên và Jamy đều là người K’ho Cil.
---
Trước đây, nghĩa là hàng trăm năm trước!
Cil - một tộc người nhỏ bé, sống len lõi ven sông Đạ Nhim và Krong Nô, hoặc trên những triền núi cao chót vót. Họ bị kẹp giữa các dân tộc hùng mạnh. Tiến về bắc thì chạm dãy Cư Yang Sin có người Ede, qua hướng Tây lại chạm người M’nông, xuôi về Nam thì gặp người Mạ, về Đông thì gặp người Chăm. Vùng họ sống, được gọi là Kill Plagnol!
Người Cil theo mẫu hệ, bắt chồng! con trai Cil sẽ vùng vằng, e thẹn, từ chối lấy lệ. À, có chút khác với người Sedang ở mạn Kontum là khi người phụ nữ sinh thì dựng cho cái chòi ngoài suối, muốn đẻ hay sống chết gì cũng kệ. Người Cil thương vợ, cho vợ căn phòng cuối nhà ấm áp!
Không hiểu vì lí do gì những người Cil và người Raglai có một mối thù truyền kiếp. Người Cil khi đi rừng hay đi đâu sẽ dọn sạch sẽ bởi nghĩ “người Raglai sẽ bò bùa”. Còn người Raglai lại cho rằng người Cil không đáng tin. Rất may, thế hệ sau này không còn thù hằn!
Người Cil sợ ma, rất sợ ma; nhất là khi có người chết hay các quan niệm về Ma Lai. Cách chôn người chết cũng khác lạ, tất cả người chết sẽ được chôn cùng một mộ. Người chết sau chôn trên người chết trước. Chính điều này làm tôi tin tưởng hơn khi nghe đứa em kể bên khu Krong Nô có những ngôi mộ to như cái núi, dù tôi chưa dịp tới khu chôn cất đó!
Tôi tiếp xúc với người Cil nhiều, có chuyến đi ghi chép những cây thuốc của người Cil vào sâu thượng nguồn, nơi làng xưa của họ. Làng cũ đã bỏ, chày cối ché nằm vũng vãi khắp nơi!
---
Những gì tôi viết, nét văn hóa ấy đã kết thúc và lùi dần sâu về quá khứ. Người Cil biến đổi qua các thời kỳ, khởi đầu là khi đạo Tin Lành du nhập và được các mục sư truyền giáo. Chính điều này, liên qua đến phần tiếp theo của bài này “Bidoup – Tà Giang, con đường tôn giáo”. Tuyến đường này con đường trekking nổi tiếng ở miền Nam.
---
Các địa danh đi qua và ý nghĩa:
- Klon Klan: Bãi lầy có con trăn lớn
- Đạ Mây: Suối mẹ
- Krong Nô: sông cha (hệ ngữ Nam Đảo)
Đêm, chúng tôi cắm trại trên đồi cỏ đầy gió và sương ẩm. Nơi mà 100 năm trước, có lẽ cũng chừng giờ ấy, bon làng đã lên lửa nấu cơm!
---
Để tôi đưa bạn về lịch sử thời đã xa,
Ngày ấy, buôn làng sống trên đồi cỏ gọi là làng Đạ Kar. Đạ có nghĩa là suối – Kar có nghĩa là cá, ngôi làng nằm im lặng dưới chân Yaric sáng mây phủ, chiều sương giăng.
Từ Đà Lạt, đoàn truyền giáo Tin Lành xuyên rừng suốt gần ba tuần lễ vượt nhiều sông suối, hàng chục thác nước, vượt qua đỉnh cao nhất của cao nguyên Lâm Viên để giới thiệu Chúa cho những sắc tộc đang sống trong rừng sâu tại Liêng Bôn, Đạ Blah, Pang Pung, Pang Tiêng, và Tiah Soh. Tham gia hành trình có mục sư Phạm Văn Năm (nữ).
Năm 1957, mục sư Phạm Văn thực hiện việc truyền giáo tại làng Đạ Kar. Nhà thờ được xây dựng, những bon làng ở các triền núi Đạ Mây cũng qua dự lễ. Con đường trekking ngày nay in dấu người đồng bào Cil thuở xưa.
Sau giải phóng, khoảng năm 1979 cuộc di dân mang tính thay đổi lớn. Có nhóm về Đơn Dương, có nhóm về Lạc Dương và cũng có người vượt núi qua Khánh Vĩnh, sống với người T’ring. Bỏ lại những đồi cỏ và nằm chơ vơ theo gió trời!
Đã từng có những làng cổ xưa nằm tận cùng những cánh rừng heo hút, họ dựng nhà và sống cheo leo trên những triền núi cao chót vót – nơi của thú hoang và tiếng thông gọi gió về reo vui. Trải qua những thăng trầm của lịch sử và thời gian; những nơi ấy ngày nay là những con đường trekking nổi tiếng.
---
Đã bước qua ngày thứ tư trong những cánh rừng sâu của Bidoup, đồ ăn cũng vơi dần. Chúng tôi quyết định rút về. Con đường vốn đã ẩm ướt, thêm mưa càng thêm trơn trượt. Ra tới rẫy, Viên lấy xe cày chở chúng tôi ra làng, ăn bữa cơm tại nhà Viên. Chúng tôi hẹn nhau khi có thời gian sẽ lên chơi, chỉ chơi thôi chứ không làm. Tôi về tìm hiểu về lịch sử vùng đất ấy!
Mất thêm 2 năm nữa, dù khi viết bài này chỉ tốn chừng 30 phút. Mong rằng qua hai bài viết về văn hóa người Cil và lược sử vùng đất này. Các bạn trẻ đi trekking sẽ có thêm kiến thức hơn, hiểu hơn về xứ Kil Plagnol này, để nhớ về những đồi cỏ xanh tốt và hình ảnh những bon làng xa xăm theo bóng lịch sử.
Phần 2 (phần cuối): Truyền giáo tin lành ở xứ Thượng
Đêm, chúng tôi cắm trại trên đồi cỏ đầy gió và sương ẩm. Nơi mà 100 năm trước, có lẽ cũng chừng giờ ấy, bon làng đã lên lửa nấu cơm!
---
Để tôi đưa bạn về lịch sử thời đã xa,
Ngày ấy, buôn làng nơi đây gọi là làng Đạ Kar. Đạ có nghĩa là suối – Kar có nghĩa là cá, ngôi làng nằm im lặng dưới chân Yaric sáng mây phủ, chiều sương giăng.
Từ Đà Lạt, đoàn truyền giáo Tin Lành xuyên rừng suốt gần ba tuần lễ vượt nhiều sông suối, hàng chục thác nước, vượt qua đỉnh cao nhất của cao nguyên Lâm Viên để giới thiệu Chúa cho những sắc tộc đang sống trong rừng sâu tại Liêng Bôn, Đạ Blah, Pang Pung, Pang Tiêng, và Tiah Soh. Tham gia hành trình có mục sư Phạm Văn Năm (nữ).
Năm 1957, mục sư Phạm Văn thực hiện việc truyền giáo tại làng Đạ Kar. Nhà thờ được xây dựng, những bon làng ở các triền núi Đạ Mây cũng qua dự lễ. Con đường trekking ngày nay in dấu người đồng bào Cil thuở xưa.
Sau giải phóng, khoảng năm 1979 cuộc di dân mang tính thay đổi lớn. Có nhóm về Đơn Dương, có nhóm về Lạc Dương và cũng có người vượt núi qua Khánh Vĩnh, sống với người T’ring. Bỏ lại những đồi cỏ và nằm chơ vơ theo gió trời!
Đã từng có những làng cổ xưa nằm tận cùng những cánh rừng heo hút, họ dựng nhà và sống cheo leo trên những triền núi cao chót vót – nơi của thú hoang và tiếng thông gọi gió về reo vui. Trải qua những thăng trầm của lịch sử và thời gian; những nơi ấy ngày nay là những con đường trekking nổi tiếng.
---
Đã bước qua ngày thứ tư trong những cánh rừng sâu của Bidoup, đồ ăn cũng vơi dần. Chúng tôi quyết định rút về. Con đường vốn đã ẩm ướt, thêm mưa càng thêm trơn trượt. Ra tới rẫy, Viên lấy xe cày chở chúng tôi ra làng, ăn bữa cơm tại nhà Viên. Chúng tôi hẹn nhau khi có thời gian sẽ lên chơi, chỉ chơi thôi chứ không làm. Tôi về tìm hiểu về lịch sử vùng đất ấy!
Mất thêm 2 năm nữa, dù khi viết bài này chỉ tốn chừng 30 phút. Mong rằng qua hai bài viết về văn hóa người Cil và lược sử vùng đất này. Các bạn trẻ đi trekking sẽ có thêm kiến thức hơn, hiểu hơn về xứ Kil Plagnol này, để nhớ về những đồi cỏ xanh tốt và hình ảnh những bon làng xa xăm theo bóng lịch sử.
---
Ảnh dữ liệu có ở mục bình luận, bổ sung cho bài viết!
BÀI VIÉT SƯU TẦM CỦA KAR XUYÊN RỪNG
BÀI VIÉT SƯU TẦM CỦA KAR XUYÊN RỪNG
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét