KHẢO CỨU LỊCH SỬ MÔ HÌNH RUỘNG ĐẤT NAM KỲ: SỰ PHI THỰC CỦA THUYẾT "ĐỊA CHỦ GIẾT CHA TRƯƠNG BỬU DIỆP"
Liên quan tới bài viết cáo thỉnh về án tuyên thánh cha Trương Bửu Diệp, trong bài đã phỏng vấn một số người tự nhận là nhân chứng về việc 'cha Trương Bửu Diệp tranh chấp đất với một địa chủ Z và bị sát hại'. Bài viết về đoạn thủ phạm có hai tuyến nhân vật chính: chủ mưu là "địa chủ Z" và kẻ thừa hành là "hai lính Nhật đào ngũ". Gác một bên vấn đề tôn giáo, và mặc dù thuyết này được cho là tài liệu chính thức của giáo phận, nó hoàn toàn không có dữ liệu đối chiếu, và quan trọng hơn, không phù hợp với cấu trúc ruộng đất, khung pháp lý, cũng như bối cảnh xã hội Nam Kỳ năm 1946.
Bất cứ ai có nghiên cứu học thuật về Nam Kỳ sẽ hiểu lịch sử vùng đất này chưa từng tồn tại địa chủ và nông nô như các nơi khác, không hình thành nên mâu thuẫn sát hại hay áp bức tàn khốc như cách mà các bộ phim truyền hình hư cấu đang thể hiện. Những tư liệu hiện tại về lịch sử Nam Kỳ hầu như không có một khoảng trống nào để cho những giả thuyết kỳ lạ đó có thể tồn tại.
Mục tiêu của bài nghiên cứu này là khảo sát lại một cách toàn diện mô hình ruộng đất Nam Kỳ đương thời với trọng tâm trong bốn điểm:
- cơ cấu sở hữu đất đai,
- cơ chế pháp lý chi phối tranh chấp,
- tính chất các xung đột đất đai có thể xác nhận qua hồ sơ lịch sử, và
- khả năng tồn tại của một tầng lớp “địa chủ” có thể gây ra bạo lực tư nhân để sát hại một linh mục Công giáo vì tranh chấp đất
Từ đó, bài khảo cứu này của tôi trở lại trung tâm câu hỏi: Liệu giả thuyết “địa chủ Z giết cha Trương Bửu Diệp” dù trực tiếp hay gián tiếp thì có bất kỳ nền tảng lịch sử, pháp lý, xã hội nào để có thể được xem là khả tín?
Cách khảo cứu của tôi là:
- Phân tích lịch sử ruộng đất Nam Kỳ dựa trên các công trình học thuật quốc tế
- Khảo cứu pháp lý đối chiếu các điều khoản dân luật Nam Kỳ, các nghị định quản lý địa chính thời Pháp thuộc
- Khảo sát các báo cáo về kết quả việc truyền giáo của các thừa sai thuộc Hội Thừa Sai Paris; và
- Phê bình nguồn đối với các tường thuật khẩu truyền trong bài viết cáo thỉnh mà giáo phận cung cấp: thay vì xem các dữ liệu truyền khẩu như một “chứng cứ” không thể kiểm chứng, tôi sẽ đánh giá chúng trong tương quan với bối cảnh lịch sử và các dữ liệu pháp lý xác thực về mô hình ruộng đất Nam Kỳ đương thời.
Từ bốn cơ sở bên trên, tôi nhắc lại luận điểm chính của khảo cứu này là Nam kỳ không hề có một tầng lớp địa chủ theo mô hình phong kiến có đủ quyền lực, động cơ, và cơ chế pháp lý để sát hại một linh mục vì tranh đất; và do đó phần về nguyên nhân cái chết của cha Diệp trong bài viết cáo thỉnh đã nhắc ở đoạn đầu này là phi thực trong lịch sử Nam Kỳ.
II. TỔNG QUAN HÀNH CHÍNH VÀ PHÁP LÝ VỀ CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐIỀN ĐỊA Ở NAM KỲ TRONG THỜI PHÁP THUỘC
1. Cấu trúc xã hội Nam Kỳ thời Pháp thuộc không tồn tại tầng lớp địa chủ
Cấu trúc sở hữu ruộng đất ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc không giống bất cứ nơi nào ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, thậm chí không giống với toàn bộ phần còn lại của Đông Dương thuộc Pháp. Nơi đây chịu ảnh hưởng của truyền thống khai khẩn đất hoang, không có hệ thống cai trị làng tổng phong kiến, cộng với hệ thống hành chính và pháp lý hiện đại của người Pháp công nhận quyền tư hữu.
Sự hỗn hợp của kinh tế khai khẩn, kinh tế đồn điền, dân luật hình luật Tây phương và mô hình tổ chức xã hội mới mẻ đã được mô tả là “một cấu trúc pháp lý hiện đại nằm trên một vùng đất khai hoang mới” như cách sử gia về Nam Kỳ, Brocheux Pierre đã tuyên bố trong công trình The Mekong Delta: Ecology, Economy, and Revolution, 1860–1960 của ông. (Brocheux, 2009, tr. 27)
Hệ thống này không sản sinh ra một giai cấp địa chủ có khả năng dùng bạo lực cưỡng đoạt đất đai, và đồng thời không cho phép bất kỳ hành vi bạo lực nào liên quan đến sở hữu đất đai mà không bị tư pháp thuộc địa trừng trị.
Có một vụ án tranh chấp đất gây chấn động toàn cõi Nam Kỳ xảy ra ở đồng Nọc Nạng quận Giá Rai thời bấy giờ, ông Mười Chức đâm chết cả viên cảnh sát Tây tên Tournier khi ông này tới canh cho người nhà của quan tri phủ Huấn cưỡng chế lúa của nhà Mười Chức. Vụ án này đã được sử sách và tư liệu pháp đình ghi lại đầy đủ, Tòa Đại Hình Cần Thơ với công tố Pháp, chánh án Pháp và trạng sư Pháp tham gia tố tụng, kết quả anh em ông Mười Chức trắng án và tri phủ Bạc Liêu Ngô Văn Huấn bị bãi chức. Vụ xử án này xảy ra trước vụ việc cha Diệp tuẫn đạo ở Tắc Sậy 19 năm và vị trí Tắc Sậy và Nọc Nạng thì ở hầu như ở sát một bên, cùng trong quận Giá Rai. Vì vậy nếu nói có một nhân vật nào đủ quyền lực ngồi trên pháp luật để công khai bắt nhốt bảy mươi người toan đốt chết rồi giết linh mục thì hẳn phải là một chuyện cực kỳ chấn động mà lịch sử sẽ không bỏ trống.
2. Nam Kỳ là nơi áp dụng triệt để hệ thống pháp luật của Pháp
Ngay từ đầu thập niên 1860s, sau khi người Pháp chiếm được ba tỉnh miền Đông, các quan chức người Pháp đã ban hành các sắc lịnh áp dụng nhiều phần trong bộ Dân luật Pháp 1804 để làm tiền đề cai trị xứ thuộc địa trong lúc chưa có một bộ luật hoàn chỉnh dành riêng cho người bản xứ. Việc này cũng đã được nhắc gián tiếp trong một phiên điều trần công khai vào năm 1913 cho phiên toà giám đốc thẩm ở Paris để kháng cáo phán quyết của Tòa phúc thẩm Đông Dương 1910-11-18, nội dung điều trần có nhắc đến việc “Điều 339 của Bộ luật Dân luật, áp dụng ở Nam Kỳ, theo sắc lịnh ngày 25 tháng 7 năm 1864”.
Ngày 3/10/1883, sắc lịnh Précis de droit civil được soạn thảo và tới đầu năm sau thì được ban hành, sắc lịnh này chuyển dịch một phần Bộ Dân luật của Pháp để áp dụng có chọn lọc cho toàn bộ Nam Kỳ. Chúng ta hay kêu đây là Dân luật Giản yếu Nam Kỳ năm 1883 (Code Civil Sommaire de la Cochinchine). Theo đó, các quyền tư hữu đất đai được thừa nhận theo mô hình propriété privée giống nước Pháp, tức là bảo đảm quyền tư hữu tuyệt đối (Robequain, 1939, tr. 112). Chính quyền thuộc địa bảo lưu quyền tài phán tranh chấp đất đai cho toà án thuộc địa theo Bộ Dân Luật, không có tầng lớp địa chủ nào được tự ý phân xử hay chia đất cấp đất công, mọi thứ đặt trên nền tảng mua bán chuyển nhượng đồng đẳng, và quan hệ giữa những người cho mướn đất và người mướn đất là quan hệ kinh doanh ngang hàng, không bị ràng buộc về đẳng cấp, cũng như có tự do rời bỏ hoặc làm hợp đồng với người chủ đất khác, hoặc tự mình đi khai khẩn.
Trong mô hình phong kiến xưa cũ của Việt Nam đặc biệt ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, lực lượng địa chủ có thật do chế độ phong ấp nhiều đời. Địa chủ ở các nơi này có quyền lực rất lớn: đặc quyền sở hữu đất, thu tô thuế và cưỡng bách lao dịch, trục xuất nông nô ra khỏi làng, thực thi pháp luật tự chế (lệ làng), sử dụng bạo lực trong phạm vi điền trang và làng tổng để trấn áp ai phản kháng, tạo lập lực lượng hành pháp nghe lệnh mình (hương binh, dân binh, gia binh…) mà không bị ghép tội phiến loạn. Mối tương hỗ này là một dạng đẳng cấp tương tự xã hội Bà La Môn, địa chủ đứng trên người làm ruộng, và những người sinh ra là nông nô thì hầu như không có cơ hội trở mình.
Nhưng tại Nam Kỳ, các sắc lệnh và bộ luật dân sự (1864, 1883–84), các nghị định về quản lý đất đai xuyên suốt mấy chục năm cùng các nguyên tắc cơ bản của xã hội Tây phương đã thiết lập mô hình propriété privée: quyền tư hữu tuyệt đối, quan hệ giữa người sở hữu và người canh tác là hợp đồng, không phải quan hệ đẳng cấp, người canh tác có tự do và cũng có quyền khai khẩn để tự sở hữu đất. Đây là lý do cơ chế địa chủ nông nô không hề tồn tại ở Nam Kỳ.
Tới 1925, Nghị định về quyền sở hữu ruộng đất ở Nam Kỳ «Décret du 25 juillet 1925 relatif à la propriété foncière (Cochinchine)» được ban hành, đây có thể coi là bước hoàn thiện cuối cùng của luật đất đai bổn xứ, theo đó, văn bản này đã bổ túc các nghị định trước và luật hóa các vấn đề:
- đất đai là tài sản dân sự phải đăng ký
- chỉ định tòa án dân sự giải quyết tranh chấp đất
- hoàn thiện cơ chế sở hữu, chuyển nhượng, đăng ký ruộng đất
Mặc dù là mô hình thuộc địa nhưng về mặt luật pháp và xã hội Nam Kỳ vẫn có sự tiến bộ và hiện đại đáng kể, nhất là khi đối chiếu với các vùng lãnh thổ Á châu đương thời.
3. Mô hình quản lý đất đai ở Nam Kỳ của chính quyền thuộc địa:
Quản lý hành chính đất đai ở Nam Kỳ được người pháp thực hiện theo chế độ Quản thủ Điền thổ Régime de la Conservation Foncière. Theo đó, việc người dân đăng ký bất động sản có tính chất bắt buộc và công khai.
Sở Địa Chính Nam Kỳ được thành lập rất sớm từ năm 1869 để tiến hành đo đạc, lập bản đồ tách thửa và quản lý địa chính. Những người sở hữu đất đăng ký với sở này sẽ được cấp Bằng khoán đất Titre de Propriété. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhất xác nhận quyền sở hữu đất đai theo bộ Dân luật. Việc đo đạc, lập sổ bộ và cấp bằng khoán đã hợp thức hóa quyền sở hữu tư nhân đối với phần lớn đất đai, kể cả việc chiếm hữu các vùng đất vô chủ rộng lớn.
Các nghị định cụ thể về việc đo đạc, thành lập Địa bộ và quy trình cấp phát bằng khoán là cơ sở để chuyển đổi chế độ ruộng đất từ phong kiến sang tư hữu dưới sự quản lý của Pháp. Ai cũng có quyền khai hoang và sở hữu đất, không hề tồn tại chuyện có ông lý trưởng hay địa chủ hét ra lửa trong làng tổng ở Nam Kỳ. (Xem “Land codes and the state in French Cochinchina c.1900–1940”, Mark Cleary)
Và ở miền Nam cho tới tận ngày nay, danh từ “bằng khoán” vẫn được dùng thông dụng. Đây là một trong những dấu tích không thể chối cãi của hệ thống quản lý hành chính và tư hữu điền địa thời bấy giờ.
III. SỞ HỮU ĐIỀN ĐỊA CỦA CÁC HỌ ĐẠO VÀ NHÀ THỜ CÔNG GIÁO
Đất nhà thờ Công giáo trong Nam Kỳ được đăng ký dưới dạng biens de fabrique, tài sản thuộc pháp nhân tôn giáo (MEP Archives, Série Cochinchine, Dossier 14).
Theo đó:
- Mọi mảnh đất của nhà chung đều được đăng bộ với số thửa, số bản đồ
- Linh mục không phải chủ đất, chủ đất là pháp nhân nhà chung.
- Tòa Thượng thẩm Sài Gòn bảo hộ quyền tư hữu đất của giáo hội (BAC 1906, No. 521).
Sử gia Pierre Brocheux nhấn mạnh trong công trình mà chúng ta nhắc ở đoạn trên: "Tài sản của Giáo hội được tòa án bảo vệ nghiêm ngặt". (Brocheux, 2009, tr. 83)
Thuyết “cha Diệp tranh chấp đất với địa chủ” mâu thuẫn hoàn toàn với khung pháp luật đang tồn tại lúc đó. Một “địa chủ” không thể tranh đất với linh mục, vì linh mục không sở hữu đất và bất kỳ tranh chấp nào phải đưa ra tòa. Ngay cả vụ án tranh chấp giữa gia đình ông Mười Chức và phe Hoa kiều Mã Ngân và bà Hà Thị Trân thân nhân của tri phủ Huấn cũng đã thưa kiện tổng cộng 8 lần lên tới tận Thống đốc Nam Kỳ và Toàn quyền Đông Dương trước khi có đổ máu.
Theo các tư liệu Pháp và thư từ thừa sai cuối thế kỷ XIX, các cha sở và nhà chung tại Nam Kỳ có thế giá lớn trước chính quyền thuộc địa. Ở nhiều họ đạo, linh mục không chỉ có uy quyền tinh thần mà còn là notable indigène, một yếu nhân được chính quyền tham khảo. Về cơ bản, các họ đạo được các giáo dân giàu có hiến tặng đất đai, họ cũng có nguồn kinh phí để mua đất ruộng; hoặc các cha sở có thể hướng dẫn nông dân khai khẩn và đăng ký bằng khoán đất mới. Và các con chiên bổn đạo cùng với cha sở và nhà chung hình thành nên một cộng đồng nông nghiệp mạnh mẽ và bền vững.
Đây cũng là một trong những cách truyền giáo thời kỳ yên hàn sau bách hại, và không hề hiếm gặp, đặc biệt ở các họ đạo Nam kỳ. Nhiều năm trước còn một câu vè "Đạo Thiên Chúa có lúa ăn hoài..." ở vùng Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Thơ, Chợ Mới... chính là vì lý do này. Thậm chí tới thời điểm hiện tại khi tôi viết bài này là 2025, ở quê tôi vẫn có người đang canh tác ruộng nhà chung và đong lúa lại cho họ đạo hàng năm. Vì vậy giáo dân Nam Kỳ, đặc biệt ở vùng Hạ Nam Kỳ Basse-Cochinchine như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau đất đai bạt ngàn thì mâu thuẫn đất đai giữa giáo dân và người ngoài lại càng là chuyện không thể nào xảy ra.
IV. KÝ ỨC GIẢ LẬP VỀ ĐỊA CHỦ Ở MIỀN NAM: HIỆN TƯỢNG HỒI TƯỞNG LỆCH VÀ NGỤY BIỆN BỐI CẢNH VĂN HÓA VÔ THỨC
Sau tiếp thu, sự tẩy não nhắm tới lớp con cháu hậu sinh tiểu bối vô cùng khốc liệt, tuyên truyền cách bịa đặt ra giai cấp địa chủ cường hào ở Nam Kỳ dày đặc trong cải lương, văn học, giáo dục học đường... và có nhiều người đã bị tin theo. Dễ thấy nhất là ấn tượng hội đồng ác độc đều được tạo ra trong mấy tuồng cải lương sau 1975 như hội đồng Dư trong Tiếng Hò Sông Hậu năm 1979, hoặc các tuồng cũ vốn ban đầu là tâm lý xã hội, nhưng được cải biên và dựng lại khác hoàn toàn, trở thành tác phẩm tuyên truyền chính trị kiểu "địa chủ cường hào áp bức bóc lột, nhân dân vùng lên chống tay sai thực dân đế quốc, tố cáo xã hội cũ"... như Tô Ánh Nguyệt, Áo cưới trước cổng chùa, Khách sạn hào hoa, Tìm lại cuộc đời, Ánh lửa rừng khuya, Người ven đô, Ánh sáng và bóng tối, Cây sầu riêng trổ bông, Tiếng sóng Rạch Gầm, Nàng Hai Bến Nghé, Trăng lên đỉnh núi...
Trong nửa thế kỷ qua, dân gian hay gọi các nhà giàu có là “ông Hội đồng”, cùng với ấn tượng độc ác xấu xa từ các ấn phẩm tuyên truyền đã nói ở trên, và từ đó người ta tưởng rằng ông Hội đồng là một giai cấp có quyền lực giống như “địa chủ phong kiến” ở các nơi khác. Nhưng trên bình diện pháp lý, chính trị, xã hội, “Hội đồng” không hề là một giai cấp phong kiến, cũng không có quyền sinh sát hay quyền trấn áp thường dân, mà chỉ là một chức danh tượng trưng trong bộ máy hành chính thuộc địa, với quyền hạn rất rõ ràng và rất hạn chế.
Dưới thời Pháp, Nam Kỳ có các thiết chế sau:
- Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ, Conseil colonial de Cochinchine: thành lập 1890, đây là một hội đồng tư vấn cho Thống đốc Nam Kỳ, về lý thuyết nó là một kiểu quốc hội mini người Pháp lập ra ở bổn xứ để tư vấn cho việc cai trị và quản lý hành chính. Họ có quyền thảo luận và biểu quyết phân bổ ngân sách, nhưng Thống đốc Nam Kỳ và Toàn quyền Đông Dương có quyền phủ quyết, sửa, hoặc áp đặt một ngân sách hoàn toàn khác. Hội đồng này cũng có thể thảo luận lập pháp các vấn đề áp dụng riêng cho Nam Kỳ. Không có quyền hành pháp để điều động cảnh sát hay binh lính.
- Hội đồng thành phố Sài Gòn / Chợ Lớn, Conseil municipal de Saigon / Cholon: Lập theo mô hình Hội đồng thành phố Paris, là một cơ quan cố vấn hành chính đô thị, quản lý ngân sách nhỏ, đề nghị quy hoạch, vệ sinh, thuế chợ, công trình công cộng, đề xuất xây dựng trạm xá, trường tiểu học... Không có quyền hành pháp để điều động cảnh sát hay binh lính.
- Hội đồng tỉnh, Conseils de province: cũng có công việc tương tự như hội đồng thuộc địa và hội đồng thành phố, nhưng quản việc nhỏ hơn nữa và do nằm trong vùng chồng lần quyền hạn của hai cấp trên, hội đồng tỉnh hầu như không có thực quyền gì cả. (Xem tài liệu tham khảo <5> <6> ở cuối bài)
Tóm lại thì các "ông hội đồng" ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc thực chất là các ông dân biểu nghị viện, có thể thảo luận ngân sách, đề nghị luật lệ địa phương, xét thuế và đề xuất các công trình công cộng, chắc chắn là không có quyền điều động hay quản lý cảnh sát, cũng không có quyền tài phán hay cưỡng chế. Nguồn gốc của họ là những nhà tư bản giàu có nhờ thương nghiệp hoặc ruộng đất, là trí thức cao cấp thông thạo tiếng Pháp... và cơ chế giàu có của họ đương nhiên dựa trên sản xuất hoặc thương nghiệp, hoặc địa vị dựa trên tài năng và học thức.
Vậy thì tại sao có những người lại dám làm chứng rằng "có địa chủ Z cho người giết cha Diệp"; trong khi miền Nam chưa từng tồn tại địa chủ? Chúng ta không thể nói về động cơ nếu không phải chính họ, nhưng về mặt học thuật, có thể lý giải dựa trên ý ngay lành rằng đây là hiện tượng memory distortion và cultural template fallacy, tự lấp đầy ký ức dựa trên bối cảnh mà văn hóa xã hội cung cấp sau này.
Đây là hiện tượng ‘hồi tưởng lệch’ và ‘ngụy biện bối cảnh văn hóa’, vốn phổ biến trong sử học và tâm lý học. Trên thực tế, Nam Kỳ không có giai cấp địa chủ phong kiến; các đại điền chủ thương mại và các ông Hội đồng thời Pháp không có quyền lực cưỡng chế hay quyền lực bạo lực, và không thể thực hiện hành vi sát hại một linh mục để chiếm đất mà không để lại hồ sơ trong hệ thống tư pháp thuộc địa. Và đương nhiên, khi những lời nói này không phù hợp với bối cảnh xã hội và pháp lý đương thời, nó không thể dùng làm dữ kiện để diễn giải lịch sử. (Xem thêm tư liệu số <7>, <8>, <9> cuối bài)
V. PHÊ BÌNH HỌC THUẬT VỚI THUYẾT ĐỊA CHỦ SÁT HẠI CHA DIỆP
1. Nguồn gốc của thuyết
Đây là một thuyết khẩu truyền xuất hiện rất muộn, có thể nói là vài năm gần đây. Không hề có báo chí đương thời, không hề có hồ sơ hành chính thuộc địa, văn bản giáo hội hay tư liệu của Hội Thừa Sai Paris hoặc tư liệu ngoại quốc cũ nào nói về chủ mưu sát hại cha Diệp là một địa chủ.
Xin lưu ý chúng ta đang nói về kẻ có trách nhiệm chủ mưu. Bên cạnh thuyết về "địa chủ sát hại cha Diệp" này, vẫn có những thuyết khác phù hợp với tình hình chính trị xã hội ở Nam Kỳ và Bạc Liêu lúc đó, ví dụ quân Việt Minh, lính của Cao Triều Phát... Những thuyết này đã có từ thời rất gần với lúc biến cố diễn ra, có nhiều văn bản sớm và cả định hình trong ký ức cộng đồng.
Thuyết địa chủ này hình thành muộn, và chịu ảnh hưởng của ký ức sau chiến tranh, lại phù hợp màu sắc của một diễn ngôn tuyên truyền về phân loại và đấu tranh giai cấp, và cuối cùng là lời chứng trộn lẫn suy đoán, tạo ra một hình ảnh giả lập và phi thực. Thuyết này về cơ bản không thể đứng vững trước bất cứ phương pháp sử học nghiêm túc nào.
2. Sai lầm logic của thuyết địa chủ
Thuyết này đụng tới đâu là tự mâu thuẫn tới đó. Có ba lỗi logic căn bản mà đủ để bác bỏ hoàn toàn:
a. Không có địa chủ nên không thể có chủ mưu là địa chủ: vì đối tượng không tồn tại nên việc gán đối tượng tự vô lý từ tiền đề.
b. Không có các nhà giàu hay ông hội đồng nào có quân binh để điều động đi bắt nhốt 70 người và toan đốt chết hết. Việc bắt giữ tập thể này đòi hỏi một lực lượng quân sự có hỏa lực áp đảo. Hãy nhớ lại chỉ mười mấy người gồm cả bà già cả con nít và phụ nữ mang thai trong nhà Mười Chức, đã giết chết cả cò Tây có súng khi xảy ra đụng độ. Việc bắt giữ 70 người chỉ với sức 2 tên lính là vô lý.
c. Mâu thuẫn động cơ: Mâu thuẫn đất đai hầu như không thể tồn tại giữa bổn đạo và một bên ngoài do cơ cấu đặc trưng thời đó. Khi xã hội biến loạn năm 1946, người có quyền lực ở vùng đầm lầy này là Việt Minh, đại diện chính là quân Cao Đài ly khai của ông Cao Triều Phát; nhà giàu hoặc các ông hội đồng vốn là công chức Pháp lo chạy nạn còn không kịp, vì Tắc Sậy nằm trong Giá Rai là vùng Việt Minh chiếm đóng và ban bố lệnh "tiêu thổ kháng chiến" cưỡng bách di tản toàn bộ người trong vùng và cha Diệp đã chọn ở lại với đàn chiên, đây mới là lý do mà cái chết của Cha và những người chọn ở lại đã được định đoạt từ trước.
3. Lối thoát của nhân chứng
a. Sự sai lệch ký ức và áp đặt bối cảnh:
Sự kiện diễn ra năm 1946, và các ghi chép được thực hiện trong cuộc điều tra án tuyên thánh, sớm nhất từ 2011, nghĩa là sau ít nhất 65 năm. Với trí nhớ của người thông thường, rất khó để bảo đảm tính chính xác mà không bị trộn lẫn với bối cảnh xã hội và thông tin tuyên truyền từ sau 1975 đến nay là 50 năm. Người ta đã dễ dàng gán các cấu trúc quen thuộc vào những mảnh ký ức mờ nhạt và chắp vá. Mặt khác, chuyện cha Diệp tuẫn đạo năm 1946, cách nay 79 năm, những đứa trẻ ngày đó không thể là nhân chứng trực tiếp. Hãy thử hình dung bạn hỏi một đứa trẻ nhỏ về câu chuyện xảy ra ở nhà hàng xóm vào ngày hôm qua và hình dung câu chuyện đó sau 65 năm nữa sẽ được kể thế nào.
b. Sự sợ hãi
Vì sợ hãi những rắc rối có thể gặp phải, người ta có xu hướng né tránh việc nhắc tới thực thể Việt Minh, và chuyển hướng trách nhiệm sang một thực thể mơ hồ là "địa chủ Z". Đây là một lối thoát tâm lý và không thể xem là dữ kiện lịch sử.
VI. KẾT LUẬN
Khảo cứu này cho thấy toàn bộ mô hình ruộng đất Nam Kỳ thời Pháp thuộc, từ cấu trúc xã hội khai khẩn, cơ chế tư hữu hiện đại, cho tới hệ thống đăng bộ bằng khoán và tài phán thuộc địa, hoàn toàn không cho phép sự tồn tại của một “địa chủ” phong kiến, càng không thể tạo ra một chủ thể có quyền lực bạo lực để sát hại một linh mục vì tranh chấp đất. Khái niệm “địa chủ Z” vì vậy không có nền tảng lịch sử, pháp lý hay xã hội nào, và chỉ xuất hiện muộn như một hình ảnh giả lập bị chi phối bởi ký ức lệch và diễn ngôn hậu chiến.
Đối chiếu với các sử liệu đương thời, các báo cáo của thừa sai Paris và mô hình vận hành quyền lực Nam Kỳ năm 1946, thuyết “địa chủ sát hại cha Trương Bửu Diệp” là bất khả về mặt cấu trúc. Sự kiện cha Diệp tuẫn đạo, nếu muốn được hiểu đúng bản chất, phải được đặt vào bối cảnh chính trị quân sự của vùng Giá Rai trong giai đoạn hỗn loạn, chứ không thể dựa trên một mô hình xã hội không hề tồn tại ở Nam Kỳ.
Vì vậy, phần giải thích nguyên nhân cái chết của cha Diệp trong bản cáo thỉnh hiện nay không thể xem là một dữ kiện lịch sử đáng tin cậy. Việc tiếp tục nghiên cứu dựa trên sử liệu đương thời và mở rộng ra nhiều hơn cho các lời chứng hoàn toàn khác, đặc biệt là các nguồn tư liệu Pháp và Công giáo quốc tế, là con đường duy nhất để tiến gần đến sự thật và bảo toàn phẩm giá lịch sử của cuộc tuẫn đạo năm 1946.
https://drive.google.com/file/d/1rvC6rAqqb4-3vmLFFYbOD21I5Ip2ztVn/view?usp=sharing
Tham khảo:
<1> Luật điền địa và nghị định liên quan ở Nam Kỳ từ 1900-1940
Mark Cleary, “Land codes and the state in French Cochinchina c.1900–1940”, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 24, No 2, 1993.
<2> Một số bộ luật ở Việt Nam thời Pháp thuộc
<3> Án lệ Tòa giám đốc thẩm Pháp 1913 có trích dẫn điều 339 bộ Dân Luật áp dụng tại Nam Kỳ
<4> Đồng bằng sông Cửu Long: Sinh thái, Kinh tế và Cách mạng, 1860-1960
Brocheux, Pierre. The Mekong Delta: Ecology, Economy, and Revolution, 1860–1960. Madison: University of Wisconsin Press, 2009.
<5> Một biên bản gốc của họp Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ
Conseil colonial de la Cochinchine. Procès-verbaux du Conseil colonial. Tome I: Session ordinaire de 1935: Séances du 11 au 25 septembre 1935. Saigon: Gouvernement de la Cochinchine, 1935. https://bibliotheques-specialisees.paris.fr/.../pf0002146882
<6> Chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam
Cady, John F. “The French Colonial Regime in Vietnam.” Far Eastern Survey 15, no. 20 (1946): 297–302.
<7> Về khái niệm văn hóa và một số ngụy biện văn hóa
Bidney, David. “On the Concept of Culture and Some Cultural Fallacies.” Philosophy of Science 11, no. 2 (1944): 123-39.
<8> Ngụy biện sinh thái trong nghiên cứu văn hóa quốc gia
Brewer, Paul, and Sunil Venaik. “The Ecological Fallacy in National Culture Research.” Organization Studies 35, no. 7 (2014): 1063-86.
<9> Hiện tượng Hồi tưởng lệch : một góc nhìn chấp nhận được
Schacter, Daniel L. “Memory Distortion: An Adaptive Perspective.” Perspectives on Psychological Science 6, no. 3 (2011): 211-26. PMC. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3183109/
<10> Báo cáo của Albert Viollette trình Quốc hội Pháp
Viollette, Albert. Rapports sur l’Indochine présentés à la Chambre des Députés. Paris: Imprimerie de la Chambre des Députés, 1911. Reproduced at Entreprises coloniales
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét